QUY ĐỊNH VỀ PHÁ SẢN CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2014
Công ty Luật TNHH IMC - Hãng luật IMC
Phòng 1107, Tháp A, Tòa nhà 173 Xuân Thủy,
Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Ls. Phan Minh Thanh - 0968.829.818
Ls. Nguyễn Mạnh Cường - 0912.292.505
LH: 0969.857.762
QUY ĐỊNH VỀ
PHÁ SẢN CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2014
Luật phá sản
2014 được ban hành tạo lập cơ chế mới xử lý phá sản doanh nghiệp hiệu quả, bảo
vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan so với các quy định
của Luật phá sản năm 2004. Điểm mới cơ bản của Luật phá sản 2014 là đã luật hóa
các quy định về phá sản tổ chức tín dụng (TCTD), xây dựng cơ chế xử lý phá sản
phù hợp với các TCTD, bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
1. Về nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
đối với TCTD
Luật Phá sản 2014 đã khắc phục bất cập
trước đây, quy định rõ hơn về việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với
TCTD:
Thứ nhất, về thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản. Khác với
thủ tục phá sản doanh nghiệp thông thường, Luật phá sản 2014 quy định rõ việc
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD chỉ thực hiện sau khi Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) có một trong những văn bản sau đây và TCTD vẫn mất
khả năng thanh toán: (i) Văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt, hoặc (ii) Văn bản
chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc (iii) Văn bản
không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán.
Quy định này phù hợp với quy định của Luật các
TCTD 2010.Theo đó, khi TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc khả năng thanh
toán, NHNN sẽ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt đối với
TCTD đó; và việc mở thủ tục phá sản đối với TCTD sẽ được thực hiện khi TCTD
không có khả năng khôi phục được khả năng thanh toán và NHNN có văn bản chấm
dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng
các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán.
Như vậy, quy định về thời điểm nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD theo Luật phá sản 2014 đảm bảo việc nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản chỉ được thực hiện khi TCTD thực sự không còn khả
năng phục hồi, tránh trường hợp TCTD bị nộp đơn yêu cầu phá sản khi chưa thực
sự lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, từ đó gây tâm lý hoang mang, ảnh
hưởng tới hoạt động của TCTD đó nói riêng và hệ thống các TCTD nói chung.
Thứ hai, về đối tượng có quyền và nghĩa vụ
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Luật phá sản 2014 quy định rõ những
người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản TCTD, bao gồm: (i)Chủ nợ
không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà TCTD không thực hiện
nghĩa vụ thanh toán; (ii) Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên
trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ
trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà TCTD không thực
hiện nghĩa vụ thanh toán; (iii) Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ
phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản khi TCTD mất khả năng thanh toán; Cổ đông hoặc nhóm cổ
đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06
tháng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi TCTD mất khả năng thanh toán trong
trường hợp Điều lệ TCTD quy định; (iv) Thành viên hoặc người đại diện theo
pháp luật của hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã mất
khả năng thanh toán.
Luật phá sản 2014 cũng quy định rõ nghĩa vụ
của TCTD nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản TCTD sau khi NHNN có văn bản chấm
dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện
pháp phục hồi khả năng thanh toán mà TCTD vẫn mất khả năng thanh toán.
Ngoài ra, Luật phá sản 2014 cũng quy định
trường hợp TCTD không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, NHNN có quyền nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD đó.
2. Về thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
đối với TCTD
Phù hợp với quy định về thời điểm nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản, Luật phá sản 2014 quy định Tòa án nhân dân thụ lý đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản TCTD khi đã có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt
hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng
thanh toán của NHNN mà TCTD vẫn mất khả năng thanh toán.
3. Về hoàn trả khoản vay đặc biệt
Theo quy định tại Điều 151 Luật các TCTD
2010, TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đe dọa ổn định của hệ thống
các TCTD, TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả do các sự cố nghiêm trọng khác
thì được vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước và các TCTD khác. Khoản vay đặc
biệt được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác, kể cả các khoản nợ
có tài sản bảo đảm của TCTD.
Trên cơ sở tính chất của khoản vay đặc biệt
và phù hợp với quy định tại Luật các TCTD 2010, Luật phá sản 2014 đã quy
định rõ khoản cho vay đặc biệt được hoàn trả cho Ngân hàng Nhà nước và TCTD
khác trước khi thực hiện việc phân chia tài sản còn lại của TCTD phá sản theo
quy định.
4. Về thứ tự phân chia tài sản
Do đặc thù của hoạt động ngân hàng, thứ tự
phân chia tài sản trong phá sản TCTD cũng khác với doanh nghiệp thông thường.
Để bảo đảm quyền lợi cho đối tượng gửi tiền tại TCTD và tổ chức bảo hiểm tiền
gửi đã chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, Luật phá sản 2014 quy định các
khoản tiền gửi, khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi
tiền tại TCTD phá sản được ưu tiên chi trả trước các nghĩa vụ tài chính đối với
Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ;
khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ
thanh toán nợ. Theo đó, thứ tự phân chia tài sản trong phá sản TCTD được thực
hiện theo thứ tự như sau: (i) Chi phí phá sản; (ii) Khoản nợ lương, trợ cấp
thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi
khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết; (iii) Khoản
tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại
TCTD phá sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và hướng dẫn của
NHNN;(iv) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải
trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán
do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.
Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh
toán các khoản nợ nêu trên, các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được
thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.
5. Về việc trả lại tài sản nhận ủy thác, nhận
giữ hộ khi TCTD bị tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản phá sản
Theo quy định hiện hành, các TCTD được thực
hiện hoạt động nhận ủy thác, giữ hộ, quản lý, bảo quản tài sản. Theo đó, khách
hàng chuyển giao tài sản cho TCTD giữ hộ, quản lý hộ theo hợp đồng cung cấp
dịch vụ của TCTD hoặc chuyển giao tài sản cho TCTD theo hợp đồng ủy thác. Tài
sản này không được tính là tài sản của TCTD mà phải trả lại cho chủ tài sản khi
TCTD bị phá sản. Do đó, Điều 102 Luật Phá sản 2014 quy định: trong thời hạn 10
ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố TCTD phá sản, chủ sở hữu
tài sản ủy thác cho TCTD, gửi TCTD giữ hộ, giao TCTD quản lý thông qua hợp đồng
ủy thác, giữ hộ, quản lý tài sản phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu
và hồ sơ, giấy tờ liên quan với cơ quan thi hành án dân sự để nhận lại tài sản
của mình.
6. Về giao dịch của TCTD trong giai đoạn
kiểm soát đặc biệt
Điều 59 Luật phá sản 2014, quy định về giao
dịch bị coi vô hiệu nhằm ngăn chặn trường hợp doanh nghiệp cố tình tẩu tán tài
sản trước phá sản, đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ của tổ chức bị phá sản. Tuy
nhiên, đối với TCTD trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt, các giao dịch TCTD được
thực hiện dưới sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước là NHNN và đều là những
giao dịch cần thiết cho việc đảm bảo khả năng thanh toán của TCTD. Do đó, Điều
103 Luật phá sản 2014 quy định giao dịch của TCTD thực hiện trong giai đoạn
NHNN áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt hoặc áp dụng biện pháp phục hồi khả
năng thanh toán dưới sự kiểm soát của NHNN sẽ không áp dụng quy định về giao
dịch vô hiệu quy định tại Điều 59 của Luật phá sản 2014.
7. Về quyết định tuyên bố TCTD phá sản
Theo quy định của Luật các TCTD 2010, khi
TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, NHNN sẽ xem xét
áp dụng thủ tục kiểm soát đặc biệt đối với TCTD. Trong quá trình áp dụng thủ
tục kiểm soát đặc biệt, NHNN áp dụng nhiều biện pháp để phục hồi hoạt động bình
thường của TCTD nhưng TCTD không phục hồi được, NHNN có văn bản gửi Tòa án
để phá sản. Do đó, khi mở thủ tục phá
sản đối với TCTD, Luật phá sản 2014 quy định Tòa án không áp dụng thủ tục Hội
nghị chủ nợ và thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh. Trong thời
hạn 30 ngày kể từ ngày Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
lập xong danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ, bảng kê tài sản của TCTD,
Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố TCTD phá sản. Quy định này nhằm đẩy
nhanh tiến độ giải quyết phá sản TCTD, đảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ nợ
của TCTD và phù hợp đặc thù của TCTD.
Nhận xét
Đăng nhận xét