PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
Công ty Luật TNHH IMC - Hãng luật IMC
Phòng 1107, Tháp A, Tòa nhà 173 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Ls. Phan Minh Thanh - 0968.829.818
Ls. Nguyễn Mạnh Cường - 0912.292.505
LH: 0969.857.762
1. Điều kiện chuyển nhượng.
Pháp
luật Việt Nam hiện hành quy định việc chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần
tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan. Về căn bản,
theo quy định tại điều 126 Luật Doanh nghiệp năm 2014, cổ phần được tự do chuyển
nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này (về hạn chế
chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập) và Điều lệ công ty có quy định hạn
chế chuyển nhượng cổ phần. Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về
chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ
trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.
1.1
Chuyển nhượng cổ phần phổ thông.
-
Đối với cổ đông sáng lập: Theo quy định tại điều 126 và điểm d khoản 1 điều 114
Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ
thông của mình cho người khác. Tuy nhiên, luật lại quy định nếu cổ đông thuộc
vào trường hợp tại khoản 3 Điều 119 Luật này hoặc Điều lệ công ty có quy định
thì cổ đông đó sẽ bị hạn chế về quyền tự do chuyển nhượng của mình. Cụ thể:
Trong khoảng thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty cổ phần được thành lập, cổ đông
sáng lập của công ty cổ phần có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của
mình cho cổ đông sáng lập khác, nếu muốn chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
không phải cổ đông công ty thì phải có sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông; sau
khoảng thời gian 03 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp, cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông không còn bị hạn chế về đối tượng
chuyển nhượng cùng điều kiện chuyển nhượng theo khoản 3 điều 119 Luật này nữa nếu
như trong Điều lệ công ty không quy định sự hạn chế về việc chuyển nhượng cổ phần
phổ thông rõ ràng trong cổ phiếu của cổ phần phổ thông. Đồng thời, với phần cổ
phần phổ thông mà cổ đông sáng lập có được thêm sau khi đăng ký thành lập doanh
nghiệp cũng không chịu sự hạn chế này, tức cổ đông sáng lập vẫn có quyền chuyển
nhượng phần cổ phần phổ thông có thêm sau này cho bất kỳ ai.
Như
vậy, đối với cổ đông sáng lập, việc chuyển nhượng cổ phần phổ thông của họ bị hạn
chế về mặt thời gian trong 3 năm đầu thành lập doanh nghiệp và hạn chế về điều
kiện chuyển nhượng là cần có sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông khi chuyển nhượng
cho người không phải cổ đông sáng lập của công ty trong thời hạn ba năm đầu
thành lập công ty.
-
Đối với cổ đông góp vốn: Theo điều 126 Luật Doanh nghiệp, cổ đông góp vốn có
quyền chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho bất kỳ ai mà không bị hạn chế
nếu Điều lệ công ty không có quy định hạn chế đối với việc chuyển nhượng cổ phần
phổ thông của họ. Tức, đối với cổ đông góp vốn pháp luật không quy định sự hạn
chế về thời điểm và điều kiện chuyển nhượng cổ phần phổ thông của họ. Nếu điều
lệ công ty không có quy định hạn chế thì dĩ nhiên họ có quyền chuyển nhượng cổ
phần phổ thông của mình bất kỳ lúc nào, cho bất kỳ ai.
Như
vậy, việc chuyển nhượng cổ phần phổ thông nhìn chung pháp luật quy định cho các
cổ đông sở hữu cổ phần này tự do chuyển nhượng, chỉ có sự hạn chế về điều kiện
chuyển nhượng đối với đối tượng nhận chuyển nhượng không phải là cổ đông sáng lập
công ty trong khoảng thời hạn 03 năm đầu. Sở dĩ pháp luật quy định sự hạn chế
trong khoảng thời gian 03 năm đầu và đối với cổ đông sáng lập và với cổ phần phổ
thông có khi thành lập doanh nghiệp mà không quy định cả cổ đông góp vốn, thời
gian sau 03 năm đầu thành lập, cổ phần có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh
nghiệp là bởi vì trong khoảng thời gian ba năm đầu thành lập, công ty có thể
chưa ổn định về cơ cấu, hoạt động…, việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng
lập - những người thường nắm giữ lượng cổ phần không nhỏ có thể gây ảnh hưởng đến
cơ cấu, tác động xấu đến hoạt động của công ty. Công ty phải có sự ổn định về
cơ cấu tổ chức nhân sự chủ chốt (các cổ đông sáng lập) thì hoạt động kinh doanh
của công ty mới có điều kiện phát triển thuận lợi nhất. Hơn nữa, pháp luật quy
định hạn chế như vậy là nhằm ràng buộc, đồng thời đề cao trách nhiệm của cổ
đông sáng lập trong giai đoạn đầu thành lập công ty, ngăn chặn tình trạng các cổ
đông sáng lập thành lập công ty với mục đích lừa đảo, chiếm đoạt vốn của những
người góp vốn.
1.2.
Chuyển nhượng cổ phần ưu đãi.
1.2.1
Chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Theo
quy định tại điều 116 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì cổ đông sở hữu cổ phần ưu
đãi biểu quyết có quyền biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hồi đồng
đồng cổ đông với số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông, điều
này do Điều lệ công ty quy định. Tuy nhiên, cổ đông sở hữu loại cổ phần ưu đãi
biểu quyết lại không có quyền chuyển nhượng cho người khác theo quy định tại
khoản 3 điều này, cụ thể: “3. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không có
quyền chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác.”
Như
vậy, việc chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết là không thể xảy ra, pháp luật
hiện nay không cho phép chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sở
hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết. Sở dĩ pháp luật quy định như vậy bởi vì cổ phần
ưu đãi biểu quyết mang đặc điểm đặc biệt đó là có số phiếu biểu quyết nhiều hơn
so với cổ phần phổ thông, chủ sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết do vậy thường là
các cổ đông sáng lập, việc chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ dẫn tới
tình trạng một vài cổ đông nào đó sở hữu tập chung nhiều cổ phần ưu đãi biểu
quyết, quyền quyết định tập chung vào tay họ nhiều hơn, sự cân bằng về quyền biểu
quyết các vấn đề trong công ty giữa họ với các cổ đông trong công ty sẽ bị mất
đi…Do vậy, pháp luật quy định không cho phép chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu
quyết là hợp lý. Các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết khi vì lý do nào
đó mà không còn muốn sở hữu loại cổ phần này thì có thể yêu cầu công ty mua lại
theo quy định tại điều 129 và điều 130 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
1.2.2 Chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ tức.
Cổ
phần ưu đãi cổ tức là loại cổ phần mà cổ đông sở hữu nó sẽ được trả phần cổ tức
cao hơn mức cổ tức của cổ đông phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm. Theo quy định
tại điểm c khoản 2 điều 117 Luật Doanh nghiệp năm 20014 thì cổ công sở hữu cổ
phần ưu đãi cổ tức có “c, Các quyền khác như cổ đông phổ thông,…” Như vậy, cổ
đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ
tức của mình cho bất kỳ ai và bất kỳ thời điểm nào mà không hề bị hạn chế về
chuyển nhượng cổ phần như cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi biểu quyết. Sở dĩ
loại cổ phần này được quy định như vậy bởi vì bản chất cổ đông sở hữu cổ phần
này chỉ có quyền trong việc hưởng mức cổ tức cao hơn mức cổ tức của cổ phần phổ
thông hoặc mức ổn định hằng năm, hoàn toàn không được quyền biểu quyết, dự họp
Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Tức
là ngoài việc hưởng mức cổ tức nhiều hơn thì cổ đông nắm giữ loại cổ phần này
hoàn toàn không có quyền can thiệp vào hoạt động kinh doanh của công ty, do vậy
việc chuyển nhượng loại cổ phần này hoàn toàn không gây ảnh hưởng gì tới quyền
lợi của các cổ đông khác và hoạt động của công ty. Từ đó, pháp luật quy định
cho phép cổ đông sở hữu cổ phần loại này được tự do hoàn toàn trong việc chuyển
nhượng cổ phần. Đây là một quy định phù hợp với thực tế, tạo sự tự do và linh
hoạt cho các cổ đông.
1.2.3 Chuyển nhượng cổ phần ưu đãi hoàn lại.
Cổ
phần ưu đãi hoàn lại là loại cổ phần mà cổ đông sở hữu nó được ưu tiên trong việc
yêu cầu công ty hoàn lại vốn góp. Theo quy định tại điều 118 Luật Doanh nghiệp
năm 2014 về cổ phần ưu đãi hoàn lại và quyền của cổ đông ưu đãi hoàn lại thì cũng
như cổ đông ưu đãi cổ tức, cổ đông ưu đãi hoàn lại hoàn toàn tự doa trong quyền
chuyển nhượng cổ phần loại này mà không gặp phải bất kỳ trở ngại nào như khi
chuyển nhượng cổ phần phổ thông hoặc cổ phần ưu đãi biểu quyết vì cổ đông sở hữu
cỏ phần ưu đãi hoản lại ngoài việc hưởng quyền ưu tiên hơn trong việc yêu cầu
công ty hoàn lại phần vốn góp thì hoàn toàn không có quyền gì trong các hoạt động
như biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị
và Ban kiểm soát. Việc chuyển nhượng cổ phần loại này do vậy cũng không gây ảnh
hưởng tới quyền lợi của các cổ đông khác và hoạt động của công ty. Do vậy, pháp
luật quy định cho cổ đông ưu đãi hoàn lại có quyền tự do hoàn toàn trong việc
chuyển nhượng cổ phần ưu đãi hoàn lại của mình.
1.3.
Một số trường hợp chuyển nhượng cổ phần đặc biệt khác.
+
Chuyển nhượng cổ phần phát hành riêng lẻ.
+
Chuyển nhượng cổ phần phổ thông của ngân hàng thương mại cổ phần: Đối với các
chức danh nắm quyền (như tổng giám đốc) bị hạn chế về thời hạn chuyển nhượng cổ
phần, lượng cổ phần được phép chuyển nhượng…
+
Chuyển nhượng cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài: nhà đầu tư chiến lược và người
nước ngoài có liên quan chỉ được chuyển nhượng cổ phần cho tổ chức, cá nhân
khác (kể cả trong nước hoặc ngoài nước) tối thiểu sau 05 năm kể từ khi trở
thành nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tại một ngân hàng Việt Nam. Tổ chức tín
dụng và người nước ngoài có liên quan sở hữu 10% vốn điều lệ tại một ngân hàng
Việt Nam chỉ được phép chuyển nhượng cổ phần của mình cho tổ chức cả nhân khác
(kể cả trong nước hoặc nước ngoài) tối thiểu sau 03 năm kể từ ngày sở hữu 10% vốn
điều lệ tại một ngân hàng Việt Nam…
Như
vậy, pháp luật về doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có những quy định riêng cụ thể
cho việc chuyển nhượng từng loại cổ phần phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng
loại cổ phần đó. Nhìn chung các quy định về chuyển nhượng cổ phần trong pháp luật
doanh nghiệp hiện nay đã phù hợp, đáp ứng được yêu cầu chung của thực tế.
2.
Phương thức chuyển nhượng.
Theo
quy định tại khoản 2 điều 126 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì “2. Việc chuyển
nhượng được tực hiện theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị
trường chứng khoán…”
2.1
Chuyển nhượng trực tiếp.
Theo
quy định của pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện hành, có thể hiểu chuyển
nhượng trực tiếp là chuyển nhượng theo cách thông thường, tức các chủ thể chuyển
nhượng cổ phần cho nhau thông qua một giao dịch dân sự. Trình tự, thủ tục chuyển
nhượng qua hình thức này phải thông qua một hợp đồng dân sự, trong trường hợp
này thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển
nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký trực tiếp vào.
2.2
Chuyển nhượng gián tiếp.
Chuyển
nhượng cổ phần gián tiếp ta có thể hiểu đó là hình thức chuyển nhượng mà các
bên sẽ không trực tiếp thực hiện giao dịch qua giấy tờ có chữ ký của các bên mà
sẽ thực hiện giao dịch loại này trên thị trường chứng khoán. Trình tự, thủ tục
và việc ghi nhận sở hữu được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng
khoán.
Theo quy định tại Khoản 2, điều 126 Luật Doanh nghiệp có quy
định: “Trường hợp chuyển nhượng thông qua
giao dịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục và việc ghi nhận sở hữu
thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.” Theo đó căn cứ vào Văn
bản hợp nhất số 27/VBHN - VPQH Luật chứng khoán ngày 18 tháng 12 năm 2013 thì
hiện nay có 2 cách thức để giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán đó
là:
- Mua chứng khoán trực tiếp tại tổ chức phát hành: Nhà đầu tư phải đăng ký mua và nộp tiền
trực tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán. Hình thức này rất bất cập, nhất là
về mặt địa lý. Ngoài ra, có thể mua thông qua trung gian là các nhà đại lý hoặc
các nhà bảo lãnh phát hành, thông thường là các công ty chứng khoán và các ngân
hàng thương mại. Nếu mua chứng khoán của tổ chức phát hành chưa niêm yết trên thị
trường giao dịch chứng khoán thì việc chuyển nhượng hoặc bán lại chứng khoán đó
cho người khác hiện nay gặp nhiều khó khăn vì không dễ tìm được người mua. Hơn
nữa, bên bán phải trực tiếp đến công ty (hoặc uỷ quyền) để thực hiện chuyển nhượng
cho người mua.
- Giao dịch chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán và Trung
tâm giao dịch chứng khoán. Điều này được quy định chi tiết tại Điều 41 Luật Chứng
khoán năm 2013.
Nhận xét
Đăng nhận xét