Về cầm cố tài sản - Phân tích, đánh giá những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005

Công ty Luật TNHH IMC - Hãng luật IMC
Phòng 1107, Tháp A, Tòa nhà 173 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Ls. Phan Minh Thanh - 0968.829.818
Ls. Nguyễn Mạnh Cường - 0912.292.505
LH: 0969.857.762

-         Thứ nhất: Về hiệu lực của cầm cố tài sản thì hợp đồng cầm cố tài sản theo Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết chứ không phải từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố như quy định của BLDS 2005. BLDS 2005 quy định thời điểm có hiệu lực của cầm cố tài sản như vậy là chưa phù hợp, bởi vì nếu quy định như vậy thì bên cầm cố không bắt buộc phải chuyển giao tài sản cầm cố, nghĩa vụ chuyển giao tài sản cầm cố là không có tính thực tế. Khoản 1 Điều 330 BLDS 2005 quy định bên cầm cố phải giao tài sản cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận, tuy nhiên thỏa thuận này chỉ có hiệu lực khi bên cầm cố tài sản giao tài sản cho bên nhận cầm cố nắm giữ, do đó khi cầm cố có hiệu lực thì bên cầm cố không còn nghĩa vụ giao tài sản nữa. Như vậy, BLDS 2015 quy định về thời điểm có hiệu lực của cầm cố tài sản từ thời điểm giao kết là phù hợp, mang tính thực tế hơn.
-         Thứ hai: Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cầm cố:
+ Về nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản thì BLDS 2015 chỉ khác với BLDS 2005 ở chỗ quy định bên cầm cố “ thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” (Khoản 3 Điều 311 BLDS 2015). Tức đã bỏ đi phần “thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để giữ gìn tài sản cầm cố”, tuy nhiên về bản chất thì quy định của hai BLDS về điều này cơ bản vẫn là giống nhau. Có thể hiểu, bảo quản và giữ gìn cũng tương tự như nhau.
+ Về quyền của bên cầm cố thì BLDS 2015 có quy định thêm vài điểm mới đó là bên cầm cố ngoài các quyền đã được quy định trong  BLDS 2005 nay có thêm quyền trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật (Khoản 4 Điều 312 BLDS 2015); bên cầm cố ngoài quyền yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố thì còn có quyền yêu cầu trả lại giấy tờ có liên quan khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt. (Khoản 2 Điều 312 BLDS 2015). Trong BLDS 2005 hiện nay chỉ quy định bên nhận cầm cố chỉ phải trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm chấm dứt, mà trên thực tế rất nhiều trường hợp khi bên cầm cố mang tài sản đi cầm cố lại phải đưa cho bên nhận cầm cố giữ giấy tờ có liên quan, ví dụ như trong trường hợp tài sản cầm cố là động sản phải đăng ký quyền sở hữu. Quy định như vậy tạo ra sự mâu thuẫn, thậm chí là không có căn cứ để giải quyết vấn đề khi có tranh chấp xảy ra. BLDS 2015 quy định thêm như vậy là phù hợp với thực tế áp dụng luật, tạo điều kiện tốt nhất cho các chủ thể trong giao dịch dân sự thực hiện theo. Đồng thời việc quy định cho bên cầm cố có quyền trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố trong trường hợp được bên cầm cố đồng ý tạo ra cho các bên trong giao dịch dân sự được quyền chủ động hơn, tự do thỏa thuận theo ý chí của mình mà lại không trái với quy định của pháp luật, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của các bên.
+ Về nghĩa vụ của bên nhận cầm cố thì theo BLDS 2015 bên nhận cầm cố có quyền cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố nếu được sự đồng ý của bên cầm cố (Khoản 3 Điều 313 BLDS 2015).
+ Về quyền của bên nhận cầm cố theo quy định của BLDS 2015 so với quy định của BLDS 2005 có thêm hai điểm mới. Một là, bên nhận cầm cố có quyền xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 314 BLDS 2015) chứ không chỉ là quyền yêu cầu nữa. Trên thực tế rất nhiều trường hợp áp dụng luật hiện nay khi có sự vi phạm nghĩa vụ bên nhận cầm cố chỉ có quyền yêu cầu xử lý tài sản cầm cố, thế nhưng vấn đề đặt ra là yêu cầu đến bao giờ? Khi yêu cầu rồi mà bên cầm cố không xử lý thì sao? Lợi ích của bên nhận cầm cố lúc này bảo đảm bằng gì? Như vậy BLDS 2015 mới ban hành quy định như vậy là hợp lý, mang lại cho bên nhận cầm cố sự bảo đảm an toàn hơn so với việc chỉ được quyền yêu cầu. Hai là, bên nhận cầm cố được cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố nếu có thỏa thuận với bên cầm cố. Điều này mang lại tính mở hơn trong việc áp dụng luật và vấn đề thể hiện ý chí của các chủ thể, tài sản vừa có thể tiếp tục đi vào vòng luân chuyển sản xuất, kinh doanh đáp ứng nhu cầu của xã hội, vừa mang lại lợi nhuận cho các bên theo nội dung đã thỏa thuận. Tuy nhiên, cũng cần phải có những quy định hết sức cụ thể về vấn đề này để tránh xảy ra những hư hỏng, mất mát đối với tài sản bảo đảm này, bởi hệ lụy kéo theo sau đó cũng không ít, ví dụ như một khi tài sản bị hư hỏng, mất thì ai sẽ chịu trách nhiệm? Giải quyết trách nhiệm các bên như thế nào? …
-         Thứ ba: Về việc thanh toán tiền bán tài sản cầm cố thì BLDS 2015 quy định gộp chung với tài sản thế chấp chứ không còn quy định riêng lẻ như trong BLDS 2005, về bản chất vẫn không thay đổi nhiều nhưng đã được quy định cụ thể, rõ ràng hơn.
-         Thứ tư: Về xử lý tài sản cầm cố thì BLDS 2015 quy định cụ thể, rõ ràng hơn so với BLDS 2005 như quy định cụ thể về phương thức xử lý tài sản cầm cố (Điều 303 BLDS 2015), bán tài sản cầm cố (Điều 304 BLDS 2015).
Nhìn chung thì ta thấy cầm cố tài sản trong BLDS 2015 được quy định với nhiều điểm mới và khác với BLDS 2005. Các nội dung mới chủ yếu là quy định về hiệu lực của hợp đồng cầm cố và quyền của các bên trong hợp đồng. Ngoài ra có một số nội dung mà BLDS 2005 quy định thì đến BLDS 2015 đã không còn quy định như: Hình thức cầm cố tài sản, thời hạn cầm cố tài sản, cầm cố nhiều tài sản, hủy bỏ việc cầm cố tài sản, xử lý tài sản cầm cố trong trường hợp cầm cố nhiều tài sản, cầm cố tài sản tại của hàng cầm đồ; một số nội dung thì được quy định chung tại phần chung của mục “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” như xử lý tài sản cầm cố, thanh toán tiền bán tài sản cầm cố.


Nhận xét