Đăng ký sáng chế và cách thức bảo hộ của nhà nước
Theo quy định tại điều 4, Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Sáng chế là thành quả lao động trí tuệ của con người, do vậy Nhà nước ta đặt ra những quy định công nhận và bảo vệ quyền của những người trực tiếp tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế.
Điều 58, Luật Sở hữu trí tuệ, điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ như sau:
“1. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có tính mới;
b) Có trình độ sáng tạo;
c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.
2. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có tính mới;
b) Có khả năng áp dụng công nghiệp.”
Như vậy khi sáng chế đáp ứng được các điều kiện cụ thể thì đều có thể được bảo hộ dưới hai hình thức: cấp Bằng bảo độc quyền sáng chế và Bằng độc quyền giải pháp hữu ích. Luật này còn quy định về các điều kiện cụ thể: tính mới của sáng chế (Điều 60), trình độ sáng tạo của sáng chế (Điều 61), khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế (Điều 62).
Các chủ thể có quyền đăng ký sáng chế như sau:
- Tác giả tạo ra sáng chế bằng công sức và chi phí của mình;
- Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thưc sgiao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác và thỏa thuận không trái với quy định pháp luật;
- Người được Chính phủ quy định có quyền đăng ký đối với sáng chế được tạo ra do sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà nước;
- Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của tất cả các tổ chức, cá nhân đó.
Hồ sơ đăng ký sáng chế bao gồm:
- Tờ khai đăng ký sáng chế theo mẫu quy định;
- Bản mô tả sáng chế: bao gồm cả hình vẽ (nếu có);
- Bản tóm tắt sáng chế (bộc lộ những nội dung chủ yếu về bản chất của sáng chế);
- Yêu cầu bảo hộ;
- Các tài liệu có liên quan (nếu có);
- Chứng từ nộp phí, lệ phí.
Văn bằng bảo hộ có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế tính từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn. Đối với Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết 15 năm kể từ ngày nộp đơn.
Văn bằng bảo hộ đối với sáng chế không được phép gia hạn, chỉ có thể được duy trì hiệu lực văn bằng bảo hộ. Để duy trì hiệu lực, chủ văn bằng bảo hộ phải nộp lệ phí duy trì hiệu lực. Trường hợp chủ văn bằng không nộp lệ phí duy trì hiệu lực trong thời hạn quy định thì khi kết thúc thời hạn đó, văn bằng bảo hộ bị chấm dứt hiệu lực kể từ ngày bắt đầu năm hiệu lực đầu tiên mà mà lệ phí duy trì không được nộp.
Có thể thấy những quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ khá chặt chẽ, tạo nên một hành lang pháp lý trong việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế cũng như bảo vệ quyền này khỏi sự xâm phạm của các chủ thể khác.
Nhận xét
Đăng nhận xét